Cuộc chiến chống quân Nam Hán lần thứ nhất (930-931)

09:15 | 11/11/2013
Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ (931 - 937) Năm 930, vua Nam Hán nhân cớ Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Hậu Lương và có ý chống lại Nam Hán, đã sai các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh đem quân sang đánh Giao châu.

1. Nhà Nam Hán và âm mưu xâm lược nước ta.

Năm 905, nhà Đường công nhận Lưu An là tiết độ sứ và năm 907 gia phong làm kiểm hiệu thái úy kiêm thị trung.  Sau khi nhà Đường sụp đổ (năm 908) nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ân làm tiết độ sứ Quảng châu, kiêm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, An Nam đô hộ, tước Nam bình vương với ý định buộc Giao châu phụ thuộc vào chính quyền của Lưu Ân ở Quảng châu. Lưu Ân cát cứ ở Quảng châu, đóng phủ trị ở Phiên Nhung (cảng thị Quảng châu).

Năm 911, Lưu Ân chết em là Lưu Cung lên thay. Tháng 9-917, Lưu Cung cát cứ ở Quảng châu, tự xưng là hoàng đế.  Năm 918, Lưu Cung đổi niên hiệu là Hán, tức Nam Hán, một trong mười nước cát cứ thời Ngũ đại - Thập quốc.

Như vậy, Nam Hán là một tiểu triều đình Trung Quốc cát cứ ở phía nam (Quảng châu). Lưu Cung vốn là tướng của nhà Hậu Lương đã được phong tước Nam Hải vương, đã từng cầm quân dẹp Lưu Xương Lỗ, cướp lại Cao châu, đánh tan Lưu Quang Trù lấy lại Kiến châu và Thiều châu, bắt sống Lưu Sĩ Chính lấy lại Quế châu, đuổi Bàng Cơ Chiến giành lấy Dụng châu, giết Diệp Quảng Lược bao chiếm Ung châu. . .  quân Lưu Cung tiến đến đâu thắng đến đó.

Với việc lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Hán, Lưu Cung có ý thức coi nước Hán của mình (thế kỷ X) là kế tục đế thống nước Hán của Lưu Bang (TCN) thay thế Đại Tần. Từ tư tưởng Đại Hán đó, Lưu Cung chủ trương tiến quân lên phía tây chiếm đất Thục, tiến về đông bắc, ra tận biển, tiến xuống phía nam, xâm lược lại Giao châu, Chiêm Thành và các nước lân cận.

Theo sử cũ ghi chép thì Lưu Cung thường muốn lôi cuốn quân sĩ vào các cuộc chiến tranh chinh phục, y chủ trương tung nhiều của cải để hậu đãi mua chuộc các danh tướng.  Chẳng hạn, trường hợp Triệu Quang Dận là tướng cũ của nhà Đường thường phàn nàn việc phải sang làm tướng cho Nam Hán là việc nhục, bị hạ thấp danh dự. Biết tâm trạng đó, Lưu Cung sai người đem xe ngựa về tận Lạc Dương đón hai con trai của Dận về Quảng châu, cấp nuôi với một chế độ bổng lộc rất hậu. Quang Dận vì thế cảm động đã thề với Lưu Cung rằng: “Xin đem hết sức lập công ở cõi ngoài, để đền đáp ân huệ”.

Đối với vùng Nam Hải, Lưu Cung từng trấn trị lâu ngày, khi lên ngôi y càng tìm cách vơ vét nhiều hơn ngọc trai, châu báu. Sử chép: “Lưu Nghiễm (tức Lưu Cung) sống quá xa xỉ, châu ngọc lấy từ Nam Hải về chứa chất đầy nhà, trang sức cung điện động lẫy; khách khứa, thương nhân đến hầu cống, Lưu Nghiễm thường mang châu báu ra khoe”.

Đối với phía tây, Lưu Cung chủ trương chiếm đất Kiềm, đất Thục, mở rộng thêm mấy ngàn dặm trong quá trình bành trướng thế lực để chiếm đất và vơ vét ngọc ngà châu báu; dùng của cải hoặc hôn nhân để tranh thủ thế lực các hào trưởng địa phương. Như Lưu Cung gả công chúa, con gái người anh họ cho Trịnh Mân - chúa vùng Vân Nam. Trịnh Mân đã thần phục Nam Hán và sai sứ tặng Lưu Nghiễm một con ngựa trắng có bờm đỏ.

Đối với phương Bắc, Nam Hán thường đặt quân đội để ngầm do thám thế lực vùng Trung Nguyên. Hà Từ lấy danh nghĩa là thống sứ với Đường Trang Tông thực chất là tâm phúc của Lưu Cung, đã báo về rằng: “thế lực nhà Hậu Đường chẳng có gì đáng sợ”. Vì thế Nam Hán đã quyết tám cất quân đánh Giao châu.
Đối với phương Nam, Lưu Cung thèm khát đã lâu, nhưng y biết không dễ gì bắt Giao châu thần phục ngay được. Một phần do người Giao châu ngoan cường, quả cảm; một phần do tình hình Trung Quốc đầu thế kỷ X rất phức tạp. Khi mới lập quốc Nam Hán còn phải lo đánh chiếm các khu vực chung quanh.

Trước khi lập quốc, họ Lưu đã đánh bại được các trại ở Giang Đông, giết bọn Xương Lỗ, đổi đặt thứ sử mới, đem binh đánh bại họ Lư, chiếm được Triều châu, Thiều châu; về phía tây, họ Lưu chiếm được Ung Quản (Nam Ninh) tranh đất Dùng, Quế với Sở vương Mã Ân. Nhờ khai thác được nhiều ngọc trai và phát triển buôn bán với miền nội địa Trung Quốc, lại giao hảo với Nam Chiếu ở Vân Nam, họ Lưu tích luỹ được nhiều của cải, Nam Hán trở nên cường thịnh và có xu hướng bành trướng.

Năm 928, Nam Hán định đánh Giao châu, nhưng lại bị Sở đưa quân vây chiếm đất Hạ Giang. Mấy trận đầu Nam Hán thua Sở. nhưng sau đó nhờ chiến thuật thủy trận tài tình của đại tướng Tô Chương, Nam Hán mới thắng quân Sở.  Lúc đó, Lưu Cung sai Tô Chương đem 3.000 quân bắn nỏ giỏi lập mưu mai phục ở hai bên bờ sông và dùng dây xích sắt thả lửng giữa sông đánh bại được cuộc tiến công của nước Sở ở Giang Hạ thuộc Phong châu, bảo vệ an toàn vùng biển giới phía bắc.

Khi đã có thế lực mạnh, lại tạm yên được mặt bắc, Lưu Cung bắt đầu thực hiện âm mưu bành trướng xuống phía nam, mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là miền đất nước ta. Nhưng lúc đó họ Khúc đang vươn lên mạnh mẽ khẳng định quyền làm chủ đất nước, thế lực ngày một mạnh,  nên đã là một trở lực đối với mưu đồ xâm lược phương Nam của Nam Hán.

Khúc Thừa Mỹ nối nghiệp cha (Khúc Hạo) làm tiết độ sứ  khoảng năm 917 - 918. Ngay từ khi còn sống, Khúc Hảo đã rất cảnh giác mặt bắc, đã cho Khúc Thừa Mỹ sang Nam Hán để “kết mối hòa hảo” làm “khuyến hiếu sứ” nhưng thực chất “là mượn tiếng hòa hảo để dò xét tình hình hư thực”.

Từ khi sang sứ ở Quảng châu về thay cha trị nước, Khúc Thừa Mỹ đã thấy thế lực họ Lưu mạnh mẽ, có thể uy hiếp nước ta.  Khúc Thừa Mỹ chưa đủ tự tin vào sức mạnh dân tộc, đã sai sứ sang nạp cống cho triều đình Hậu Lương, “xin lĩnh tiết việt”, định nhờ cậy uy thế của triều đình Trường An để chế ngự triều đình Nam Hán mà ông vẫn gọi là “ngụy đình”.  Khúc Thừa Mỹ cũng muốn dựa vào nhà Hậu Lương để tăng thêm uy tín đối với thổ hào trong nước, chuẩn bị lực lượng chống quân Nam Hán.

Qua 25 năm khôi phục quyền tự chủ, họ Khúc vẫn chưa có điều kiện đưa nước ta, từ một miền đất “xơ xác” do nạn Bắc thuộc kéo dài trở thành một quốc gia tự chủ mạnh; quyền kiểm soát chính trị và huy động lực lượng quân sự trong cả nước cua Khúc Thừa Mỹ còn nhiều hạn chế do uy tín và tài năng của ông không đủ cao và uy thế của các hào trưởng địa phương còn lớn.

Do đó, âm mưu xâm lược phương Nam của nhà Nam Hán lúc ấy quả là một mối đe dọa lớn đối với nước ta, một đất nước khi mà nền độc lập vừa mới giành lại chưa được củng cố vững chắc. Nguy cơ bị ngoại bang thống trị vẫn treo lơ lửng trên đầu.

2. Cuộc chiến chống xâm lược Nam Hán (930 - 931).

 

Hình vẽ minh họa Dương Đình Nghệ

Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ (931 - 937) Năm 930, vua Nam Hán nhân cớ Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Hậu Lương và có ý chống lại Nam Hán, đã sai các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh đem quân sang đánh Giao châu.

Vốn thiếu tự tin ở sức mạnh dân tộc, lại không lo chuẩn bị cuộc kháng chiến, không đoàn kết được toàn dân để đánh giặc giữ nước, Khúc Thừa Mỹ đã không đứng vững trước cuộc tiến công ồ ạt của quân xâm lược Nam Hán. Nước ta lại bị xâm chiếm. Khúc Thừa Mỹ bị bắt đưa về Quảng châu.

Cuộc kháng chiến bị thất bại nhanh chóng. Theo sách An Nam kỷ yếu trước kia Lưu Cung nghe nói Thừa Mỹ đã nhận “tiết việt” của nhà Lương, giận lắm, sai tướng giỏi là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Thừa Mỹ đưa về

Quân Nam Hán sau khi chiếm được Giao châu đã ra sức đàn áp, cướp bóc của cải của nhân dân ta. Lương Khắc Trinh còn đem quân tiến vào Hoan châu, Ái châu, vượt qua dãy Hoành Sơn tiến công Chăm pa cướp nhiều báu vật đưa về.

Vua Nam Hán cử Lý Tiến làm tiết độ sứ Giao châu cùng Lương Khắc Trinh giữ thành Đại La.  Nhưng quân Nam Hán chỉ có thể đánh thắng được thế lực của Khúc Thừa Mỹ chứ không thể đánh thắng được ý chí quật cường của nhân dân ta và càng không thể thiết lập được nền thống trị của chúng.

Căm phẫn quân cướp nước tàn bạo, nhân dân khắp nơi nhất tề nổi dậy chống xâm lược. Chính quyền địch trong thực tế chỉ chiếm được phủ thành Đại La và kiểm soát được một số vùng chung quanh, vì thế chúng càng ngày càng bị cô lập.

Cái chính quyền đô hộ mà Nam Hán vội vã dựng lại ở Đại La chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Lưu Cung phải thừa nhận: “Dân Giao Chỉ hay làm loạn, chỉ có thể ràng buộc (kimi) mà thôi”.

Ở các địa phương, các tướng lĩnh cũ của họ Khúc, các hào trưởng vẫn duy trì lực lượng riêng và nắm quyền quản lý từng vùng rộng lớn như họ Ngô ở Đường Lâm ba Vì, Sơn Tây), họ Kiều ở Phong châu (vùng Ba Vì và Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc), họ Đinh ở Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình), họ Lê ở giáp Bối Lý (Thiệu Yên, Thanh Hóa), họ Lý ở hương Cổ Pháp (Đình Bảng Tiên Sơn, Bắc Ninh)... và đặc biệt là họ Dương ở Dương Xá (Thiệu Hoá, Thanh Hóa).

Tương truyền rằng ông tổ họ Dương là Đô Dương (có nghĩa là đô vật họ Dương) người lão tướng anh hùng của quân đội Trưng Vương, đã cùng Chu Bá kiên cường chiến đấu chống quân xâm lược Mã Viện cho đến những ngày cuối cùng trên đất Cửu Chân. Trải qua nhiều đời sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất trù phú có đường giao thông thủy rất  thuận tiện và là trung tâm kinh tế, chính trị, quán sự của vùng Ái châu, họ Dương trở thành một thế lực hùng mạnh trong vùng, thóc lúa, tiền của đầy kho.

Ở lò võ làng Ràng (Dương Xá, Thiệu Hóa,Thanh Hóa) đã hình thành một trung tâm kháng chiến khá mạnh, đứng đầu là hào trưởng Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của họ Khúc.  Ông công khai nuôi dưỡng 3.000 con nuôi, (nghĩa tử) trong nhà, ngày đêm luyện tập, chuẩn bị tiến ra Giao châu tiêu diệt quân xâm lược.

Dinh cơ của họ Dương trở thành nơi “tụ nghĩa” của hào kiệt khắp nơi trong nước ta. Con Ngô Mân, thứ sử Phong châu là Ngô Quyền từ Phong châu, Đinh Công Trứ từ Trường châu (Ninh Bình) . . . đều đưa gia thuộc vào làng Ràng tụ nghĩa.

Dương Đình Nghệ cử Đinh Công Trứ trấn trị Hoan châu, giữ Ngô Quyền làm gia tướng dưới trướng doanh, gả con gái cho, sai chỉ huy đội quân chủ lực.  Dương Đình Nghệ ráo riết chuẩn bị lực lượng, mộ thêm quân, xây thành lũy ở nơi mình đóng.

Sử chép, Đình Nghệ có chí khôi phục Giao châu, có nuôi ba ngàn tráng sĩ làm nha binh.  Lý Tiến được nhiều lần báo tin đó, song sợ, không dám làm gì, chỉ cho người cấp báo với Lưu Cung. Để lấy lòng Dương Đình Nghệ, chúa Nam Hán còn phải “trao tước vị” và cho ông giữ Ái châu.

Nhưng Dương Đình Nghệ và các hào kiệt nước Nam đâu có thèm công nhận cái uy quyền của vua Nam Hán. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng tháng 3-931 - không đầy nửa năm sau cuộc xâm lược của Nam Hán - từ Ái châu, Dương Đình Nghệ đã cử binh tiến ra Giao châu, bao vây và tiến công thành Đại La, dinh lũy chiếm đóng của giặc Nam Hán.

Lý Tiến chống không nổi, cho người về Quảng châu cáo cấp.  Vua Nam Hán vội vàng cử thừa chỉ Trình Bảo (Trần Bảo) đem quân sang cứu viện. Nhưng quân tiếp viện chưa đến nơi thì thành Giao châu đã bị Dương Đình Nghệ chiếm, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết, thứ sử Lý Tiến cùng tàn quân thoát vây chạy trốn.

Quân cứu viện vừa đến, định tổ chức bao vây lại quân ta, nhưng Dương Đình Nghệ đã nhanh chóng bố trí lực lượng phòng vệ, biến Đại La thành pháo đài kiên cố và chủ động dẫn quân ra ngoài thành để chiến đấu, chặn giặc. Quân Nam Hán bị đánh tan, Trần Bảo bị giết tại trận. Lý Tiến bỏ trốn về Nam Hán, bị Lưu Cung sai bắt giết.

Đất nước ta lại được giải phóng. Ngọn cờ tự chủ chuyển từ tay họ Khúc qua tay họ Dương. Dương Đình Nghệ xứng danh là một vị anh hùng dân tộc.


Về chiến công của Dương Đình Nghệ, sử cũ của ta chép vắn tắt rằng: “theo sách An Nam kỷ yếu chúa Nam Hán sau khi bắt được Thừa Mỹ, sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Khắc Chính đóng giữ Giao châu.  Dương Đình Nghệ lấy tư cách là tướng cũ của Khúc Hạo, tập họp quân sĩ đánh bại Khắc Chính. Khắc Chính phải chạy về Nam Hán. Chúa Nam Hán ý muốn chiêu dụ, tạm phong tước vị cho Diên Nghệ. Chúa Nam Hán bảo những kẻ tả hữu mình rằng: Dân Giao châu thích nổi loạn, ta chỉ có thể kimi (ràng buộc) được thôi” (1).Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ hoàn toàn thắng lợi. âm mưu xâm chiếm nước ta, đặt ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa đã bị đập tan. Chiến thắng của Dương Đình Nghệ chứng tỏ ý chí độc lập của nhân dân ta đang trưởng thành, kiên quyết bảo vệ những thành quả đấu tranh bao đời nay, kiên quyết bảo vệ mảnh đất thân yêu của mình.  Chiến thắng của Dương Đình Nghệ càng củng cố thành quả độc lập dân tộc, mở màn cho hàng loạt cuộc kháng chiến kiên cường, đầy sáng tạo của dân tộc ta trong những thế kỷ tiếp theo.

Sau khi đánh tan giặc Nam Hán, Dương Đình Nghệ vẫn tự xưng là tiết độ sứ để giữ quan hệ hòa hiếu với phong kiến phương Bắc. Ông tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa giành lại được, tổ chức lại công cuộc cai trị đất nước, phát triển lực lượng dân tộc. Dương Đình Nghệ đã dùng một số người thân tín có tiếng tăm như Đinh Công Trứ (bố Đinh Bộ Lĩnh) làm thứ sử Hoan châu, kết tình thông gia và cho Ngô Mân (bố Ngô Quyền) làm thứ sử ái châu. Chính quyền tự chủ non trẻ đã vượt qua một thử thách nguy hiểm.  Nhân dân ta, đất nước ta sau hơn chục thế kỷ bị đè nén kìm kẹp, giờ đây đang có điều kiện vươn lên làm chủ vận mệnh của mình.

Như vậy, cũng như họ Khúc, họ Dương còn giữ chức tiết độ sứ, có nghĩa là chưa công khai tuyên bố nền độc lập, cố giữ thái độ hoà hoãn với đối phương để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng độc lập của đất nước. Quyền tự chủ của nước ta do Dương Đình Nghệ khôi phục tồn tại được bảy năm (931-937), từ khi đánh tan quân xâm lược Nam Hán đến khi Dương Đình Nghệ bị tên phản bội Kiều Công Tiễn giết chết.

Nguồn tin: Viet Nam Military History
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Học sửa chữa SMP tại CPS